Mẫu Tâm Vẹn Tuyền

Thánh Gioan Phaolô II cho biết: “Kinh Mân Côi là mầu nhiệm của các mầu nhiệm. Lần chuỗi Mân Côi là giao phó những gánh nặng cho Thánh Tâm Thương Xót của Chúa Kitô và Đức Mẹ”.

Thánh Germanô phân tích: “Tôn sùng Mẹ là dấu chỉ linh hồn có ơn thánh, hay ít nhất cũng sắp được ơn thánh. Con người còn thở chứng tỏ họ còn sống, tôi tớ Mẹ còn kêu tên Mẹ cũng chứng tỏ họ còn sống, còn hoạt động và còn được ơn Chúa phù hộ.” Và Thánh Laurentiô Justinianô xác định: “Đức Mẹ hộ phù, chúng con khỏi chết; Đức Mẹ cầu bầu, chúng con được sống”.

Hầu như thánh nhân nào cũng yêu mến Đức Mẹ. Mẹ là tất cả của Con, và Con là tất cả của Mẹ. Chúng ta có người mẹ trần gian là hạnh phúc lắm rồi, dù người mẹ đó bất toàn, chúng ta còn hạnh phúc tột cùng vì có người mẹ tâm linh là Đức Trinh Nữ Maria – Người Mẹ tuyệt hảo. Chúa Giêsu muốn chúng ta yêu mến Đức Mẹ nên Ngài đã giao phó cho chúng ta qua Thánh Gioan: “Đây là mẹ của anh” (Ga 19:27).

Trái Tim Đức Mẹ là Mẫu Tâm vẹn tuyền, không chút bợn nhơ, Vô Nhiễm Nguyên Tội. Chưa có ai hiểu được lý lẽ của trái tim người mẹ. Trái tim người mẹ trần gian còn chưa hiểu nổi, huống chi Trái Tim Người Mẹ tâm linh – Thánh Mẫu Maria. Là người cổ võ lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu và Mẫu Tâm Đức Maria, Thánh Gioan Eudes nói: “Trái Tim Mẹ Maria là Trái tim Giáo Hội chiến đấu, Giáo Hội tẩy luyện và Giáo Hội vinh thắng”.

Đức Mẹ thật cao trọng nhưng lại rất khiêm nhường, chỉ nhận mình là “nữ tỳ của Chúa” (Lc 1:38). Có lẽ Đức Mẹ là người được tôn xưng bằng nhiều danh hiệu nhất, không chỉ vì Mẹ là Mẹ Thiên Chúa mà còn vì Mẹ trọn hảo.

Khôn ngoan là nhân đức cần thiết, Kinh Thánh cho biết: “Đức Khôn Ngoan tự biểu dương và hãnh diện ở giữa dân mình. Khôn ngoan lên tiếng trong đại hội của Đấng Tối Cao và hãnh diện trước quyền uy của Người” (Hc 24:1-2). Đức khôn ngoan biểu hiện Thiên Chúa, vì Ngài là Đấng Khôn Ngoan. Ngài xác định: “Duy có mình Ta đi vòng cả bầu trời và rảo bước khắp vực sâu thăm thẳm. Trên sóng biển, trên toàn cõi đất, trên mọi nước mọi dân, Ta nắm trọn chủ quyền. Giữa chúng hết thảy, Ta tìm chốn nghỉ ngơi, xem có gia nghiệp của ai để Ta cư ngụ” (Hc 24:5-7).

Thánh vương Salômôn đã rất khôn ngoan khi ông chỉ xin được sự khôn ngoan và hiểu biết (1 Sb 22:12; 2 Sb 1:10) chứ không xin gì khác. Vì thế, “Thiên Chúa cho vua Salômôn được dồi dào khôn ngoan, thông thạo, và một trái tim bao la như cát ngoài bãi biển” (1 V 5:9). Đức Maria là Ngai Tòa của Đấng Khôn Ngoan, là Nhà Tạm đầu tiên từ khi “xin vâng”. Đó là sự khôn ngoan của Đức Mẹ.

Kinh Thánh nói về đức khôn ngoan: “Ta đâm rễ sâu giữa một dân hiển hách, trong phần riêng của Đức Chúa, cũng là sản nghiệp của Người. Ta đã vươn lên tựa cây bá hương vùng Li-băng, tựa cây trắc bá núi Khéc-môn. Ta đã vươn lên như cây chà là ở Ên Ghe-đi, như những khóm hồng ở Giê-ri-khô, như cây ô-liu xanh tốt giữa cánh đồng. Như cây tiêu huyền, Ta đã vươn lên. Như cây quế, như tước sàng, Ta nức hương ngào ngạt, Ta toả hương thơm ngát như mộc dược quý, như phong tử hương, mã não, an tức hương, như khói hương nghi ngút trong lều, Ta vươn nhánh ra như cây nhựa điều, nhánh của Ta là nhánh vinh quang tươi đẹp” (Hc 24:12-16).

Sự khôn ngoan thật kỳ diệu, nhưng phải là sự khôn ngoan từ Thiên Chúa, chứ sự khôn ngoan của loài người chẳng nghĩa lý gì, như Thánh Phaolô so sánh: “Cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1 Cr 1:25). Sự khôn ngoan cao quý, cao cả, cao vời, sâu thẳm, bao la và bất tận: “Người đầu tiên chẳng biết hết khôn ngoan, kẻ cuối cùng cũng không hiểu thấu được. Vì tư tưởng của khôn ngoan rộng hơn đại dương, ý định của khôn ngoan sâu hơn vực thẳm. Phần tôi, tôi như kênh đào chảy từ sông lớn, như con lạch dẫn nước tới địa đàng” (Hc 24:28-30).

Là Đấng nhân lành và khiêm nhường, Thiên Chúa hạ bệ bất kỳ ai hung hăng, kiêu căng: “Cung nỏ người hùng bị bẻ tan, kẻ yếu sức lại trở nên hùng dũng. Người no phải làm mướn kiếm ăn, còn kẻ đói được an nhàn thư thái. Người hiếm hoi thì sinh năm đẻ bảy, mẹ nhiều con lại ủ rũ héo tàn” (1 Sm 2:4-5). Ý tưởng này cũng được Đức Maria đề cập trong bài Magnificat khi đến thăm bà chị Êlisabét (Lc 1:46-55).

Chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng toàn năng, tự hữu, hằng sinh, tạo dựng muôn loài, có mọi quyền hành: “Đức Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử, đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên. Đức Chúa bắt phải nghèo và cho giàu có, Người hạ xuống thấp, Người cũng nhắc lên cao. Kẻ mọn hèn, Chúa kéo ra khỏi nơi cát bụi, ai nghèo túng, Người cất nhắc từ đống phân tro, đặt ngồi chung với hàng quyền quý, tặng ngai vinh hiển làm sản nghiệp riêng. Vì nền móng địa cầu là của Đức Chúa, Người đặt cả hoàn vũ lên trên” (1 Sm 2:6-8). Tuy nhiên, Thiên Chúa dùng quyền để nâng đỡ, yêu thương và cứu thoát, chứ không dùng quyền để “hành” chúng ta như phàm nhân thường làm.

Chắc hẳn Đức Mẹ là người điềm tĩnh, bởi vì Đức Mẹ luôn “ghi nhớ mọi kỷ niệm và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2:19). Đức Mẹ im lặng để cầu nguyện và kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa. Đời sống cầu nguyện rất quan trọng đối với các Kitô hữu, Thánh Mark khổ tu cho biết: “Bằng việc cầu nguyện và cậy trông, chúng ta hãy gắng sức xua đi mọi ưu tư trần thế. Nhưng nếu chúng ta không thể làm được như thế để đạt đến trọn lành, chúng ta hãy thưa với Thiên Chúa về những khiếm khuyết của chúng ta và đừng bao giờ từ bỏ việc siêng năng cầu nguyện. Bởi vì bị trách cứ về những thiếu sót thường xuyên thì vẫn còn hơn là sự chểnh mảng hoàn toàn”.

Mọi tín nhân đều là thụ tạo mới của Thiên Chúa. Thánh Phaolô giải thích: “Tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi, vì chúng tôi nghĩ rằng: nếu một người đã chết thay cho mọi người, thì mọi người đều chết. Đức Kitô đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình. Vì thế, từ đây chúng tôi không còn biết một ai theo quan điểm loài người. Và cho dù chúng tôi đã được biết Đức Kitô theo quan điểm loài người, thì giờ đây chúng tôi không còn biết Người như vậy nữa. Cho nên, phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi. Mọi sự ấy đều do bởi Thiên Chúa là Đấng đã nhờ Đức Kitô mà cho chúng ta được hòa giải với Người, và trao cho chúng tôi chức vụ hòa giải” (2 Cr 5:14-18). Đó là sự thật minh nhiên, và rất kỳ diệu.

Thánh Phaolô xác định: “Thật vậy, trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hòa giải với Người. Người không còn chấp tội nhân loại nữa, và giao cho chúng tôi công bố lời hòa giải. Vì thế, chúng tôi là sứ giả thay mặt Đức Kitô, như thể chính Thiên Chúa dùng chúng tôi mà khuyên dạy. Vậy, nhân danh Đức Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hòa với Thiên Chúa. Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2 Cr 5:19-21). Tình Chúa nhiệm mầu và cao siêu, phàm nhân không thể hiểu thấu, nhưng đó là sự thật tuyệt đối.

Qua trình thuật Lc 2:41-52, Thánh sử cho biết: “Hằng năm, cha mẹ Đức Giêsu trẩy hội đền Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua. Khi Người được mười hai tuổi, cả gia đình cùng lên đền, như người ta thường làm trong ngày lễ. Xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giêsu thì ở lại Giêrusalem, mà cha mẹ chẳng hay biết. Ông bà cứ tưởng là cậu về chung với đoàn lữ hành, nên sau một ngày đường, mới đi tìm kiếm giữa đám bà con và người quen thuộc. Không thấy con đâu, hai ông bà trở lại Giêrusalem mà tìm” (Lc 2:41-45). Cha mẹ luôn lo cho con cái, đặc biệt là trái tim người mẹ không thể yên được khi chưa biết rõ sinh hoạt của con cái.

Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy Con Trai ở Đền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe vừa hỏi. Ai nghe Cậu nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của Cậu. Họ ngạc nhiên vì biết Cậu Giêsu là con ai và ở đâu, nhưng không thể ngờ rằng Cậu chính là Con Thiên Chúa, và là Thiên Chúa Ngôi Hai.

Gặp lại Con Trai, Đức Mẹ tỏ rõ mối bận tâm: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con” (Lc 2:48)! Đức Mẹ không thể im lặng lúc này, vì trái tim người mẹ chịu bất an mấy ngày rồi. Chắc hẳn Đức Mẹ cũng đã khóc nhiều. Đức Thánh Giuse không nói gì, chỉ im lặng. Tình cha thâm trầm, nhưng lòng cha cũng bồn chồn đâu kém lòng mẹ.

Biết cha mẹ lo lắng và cũng thấy thương lắm, nhưng Chúa Giêsu cho biết điều quan trọng: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao” (Lc 2:49)? Chính “bổn phận ở nhà Cha” cần thiết và quan trọng lắm. Nhưng cũng là phàm nhân nên ông bà không hiểu hết lời Con Trai vừa nói.

Thánh Piô Năm Dấu nói: “Hãy yêu mến Đức Mẹ và hãy lần chuỗi Mân Côi, vì chuỗi Mân Côi là vũ khí chống lại sự dữ trong thế giới ngày nay. Mọi ân sủng đều được Thiên Chúa trao ban qua Đức Mẹ”. Để tỏ lòng kính yêu Đức Mẹ và tôn sùng Mẫu Tâm – một trong ba mệnh lệnh Fátima, chúng ta phải noi gương Chúa Giêsu bằng cách cố gắng “ngày càng thêm khôn ngoan và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 2:52). Chắc chắn điều đó cũng làm Đức Mẹ vui lòng lắm.

Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, xin giúp chúng con biết yêu mến và noi gương Đức Mẹ. Lạy Mẹ Maria, xin giúp chúng con biết khao khát nên thánh, biết vâng lời và chịu lụy. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen

TRẦM THIÊN THU

Bài này đã được đăng trong Chia sẻ. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.