Hãy dâng tất cả cho Chúa

Có một câu chuyện thật cảm động về thánh Giê-rô-ni-mô.

Truyện kể rằng: “Vào một đêm Giáng Sinh, Giê-rô-ni-mô đang cầu nguyện nơi một hang đá trong rừng vắng, thì Chúa Giê-su hiện ra và hỏi: “Giê-rô-ni-mô có gì làm quà cho Ta trong ngày sinh nhật của Ta không?” Giê-rô-ni-mô thưa: “Lạy Chúa, con xin dâng trái tim của con cho Chúa”. Chúa lại hỏi: “Còn gì nữa không?” và cứ thế tiếp tục câu hỏi ấy sau mỗi lần Giê-rô-ni-mô trả lời, lần lượt: “Con xin dâng tất cả những gì con có và cả những gì con có thể”, rồi “Con xin dâng bản dịch Sách Thánh con vừa dịch xong”, cuối cùng Giê-rô-ni-mô thưa: “Ôi! Lạy Chúa, con còn gì nữa đâu”. Tới lúc đó, Đức Ki-tô mới ôn tồn bảo: “Còn sự yếu đuối và tội lỗi của con, hãy dâng tất cả cho Ta”. Giê-rô-ni-mô hốt hoảng: “Ôi! Lạy Chúa, làm sao con dám dâng những thứ ấy cho Chúa được?” và ngài thật sự ngỡ ngàng trước Lời dạy của Đấng mà ngài đang đối thoại: “Được chứ! Ta muốn con dâng những thứ ấy để Ta tha thứ cho con. Đó mới chính là điều Ta mong đợi ở con” (nguồn: Thanhlinh.net).

Không phải chỉ có thánh Giê-rô-ni-mô, mà tất cả mọi người – từ xưa tới nay – đều ngỡ ngàng trước Lời dạy của một vị Vua độc nhất vô nhị. Cứ thử lần giở lịch sử cổ kim mà xem, có ông vua nào quỳ xuống rửa chân cho đầy tớ, coi đầy tớ như bạn hữu, yêu thương tất cả mọi người không chỉ bằng lời dạy dỗ mà bằng cả cuộc đời hoạt động và hiến dâng mạng sống mình làm giá chuộc muôn người? Không những thế, Người còn dạy phải yêu thương cả kẻ thù, mà chính Người đã thể hiện trên thập giá khi cầu cho những kẻ đã đóng đinh Người: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34). Danh hiệu được muôn người, muôn thế hệ tuyên xưng Người là Vua Tình Yêu, quả thực không còn một ngôn ngữ nào xác đáng bằng và có thể thay thế được. Như thế, Lời Vua Tình Yêu dạy thánh Giê-rô-ni-mô cũng chính là Lời Người dạy tất cả các tín hữu: “Hãy dâng cho Ta tất cả sự yếu đuối và tội lỗi của các con”.

Sở dĩ con người ngỡ ngàng cũng bởi vì người ta đã hiểu Lời dạy của vị Vua Tình Yêu theo cách hiểu của loài người. Thật thế, dâng cho người mà mình quý trọng là một ông vua, thì lễ vật chỉ có thể là bạc vàng châu báu, nhung lụa gấm vóc, sơn hào hải vị, yến tiệc linh đình, hoặc những sản phẩm, những tác phẩm mà mình làm ra được và rất ưng ý. Ngoài ra, về mặt tinh thần, thì có thể dâng những thứ như thánh Giê-rô-ni-mô nói: “trái tim của con cùng vói tất cả những gì con có và cả những gì con có thể”. Còn những gì là xấu xa, tội lỗi, thường được che giấu, chôn vùi (“tốt phô ra, xấu xa đậy lại” – tục ngữ VN), không thể coi là lễ vật dâng tiến được. Hốt hoảng, ngỡ ngàng trước một vị Vua công chính đòi dâng lễ vật một cách lạ lùng như thế, cũng là thường tình thế sự. Hoá cho nên phải hiểu vấn đề theo ý của vị Vua Tình Yêu, bởi Người chính là Thiên Chúa Tình Yêu. Ý của Người là: “Ta muốn con dâng những thứ ấy để Ta tha thứ cho con”.

Rõ ràng Người muốn người tín hữu với tội lỗi đầy mình, rất cần được tha thứ, mà cách tốt nhất để được tha thứ là rũ bỏ những thứ nhơ bẩn đó ra khỏi cuộc đời mình. Chắc ăn hơn cả là đem dâng cho vị Vua kỳ lạ ấy, vì “Đó mới chính là điều Ta mong đợi ở con”. Dâng cho Người với một tấm lòng trung thực hối cải, từ bỏ tội lỗi. Một cách cụ thể là phải biết sám hối, bởi “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần đến” (Mt 3, 2). Sám hối để “mong đợi trời mới đất mới. nơi công lý ngự trị” (2Pr 3, 13) và “Vì thế, anh em thân mến, trong khi mong đợi ngày đó, anh em phải cố gắng sao cho Người thấy anh em tinh tuyền, không chi đáng trách và sống bình an” (2Pr 3, 14). Muốn được tinh tuyền, không có gì đáng trách và sống an bình thì “Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, để được ơn tha tội; và anh em sẽ nhận được ân huệ là Thánh Thần” (Cv 2, 38). Không còn nghi ngờ gì nữa, sám hối để chừa bỏ tội lỗi và thanh tẩy con người của mình bằng phép rửa, theo lời của “Tiếng hô trong hoang địa” Gio-an Tẩy Giả: “rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội”.

Trước đây, khi chia sẻ Lời Chúa về Thánh Gio-an Tẩy Giả, căn cứ vào Tin Mừng theo Thánh Lu-ca: “có lời Thiên Chúa phán cùng con ông Da-ca-ri-a là ông Gio-an trong hoang địa” (Lc 3, 2-3), kẻ viết bài này vẫn cho rằng thánh nhân vào hoang địa để ăn chay hãm mình (giống như Đức Ki-tô vào hoang địa ăn chay để chịu ma quỷ cám dỗ – Mt 4, 1-11). Còn khi rao giảng thì phải tới những nơi có đông nguời ở (“Ông liền đi khắp vùng ven sông Gio-đan, rao giảng, kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội” – Lc 3, 2-3), chớ trong hoang địa thì nói với ai và để ai nghe? Nếu thánh nhân có tự xưng “Tôi chỉ là tiếng hô trong hoang địa” thì đó chỉ là lời nói khiêm nhu tự hạ, bởi chính ngài cũng đã rất khiêm nhường khi tự nhận mình “không đáng cởi quai dép” cho Đấng đến sau minh là Đức Giê-su Ki-tô. Cứ kể suy nghĩ như vậy cũng không có gì sai. Tuy nhiên, đọc kỹ lại bài đọc 1 trong CN II/MV hôm nay (“Có tiếng hô: “Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho ĐỨC CHÚA, giữa đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta” – Is 40, 3), mới thật sự hiểu thêm ý nghĩa sâu xa của “tiếng hô trong hoang địa”.

Khi thấy trong lòng trống vắng, buồn tênh, chẳng biết nghĩ gì và làm gì, cũng chẳng biết tâm sự cùng ai, người ta vẫn thường nói: “Mình đang lúc sống trong ‘hoang mạc cuộc đời’, có nói cũng chẳng ai nghe bởi tiếng nói của mình chỉ là ‘tiếng hò trong sa mạc’ mà thôi”. Như vậy tiếng “hoang địa” mà ngôn sứ I-sai-a dùng là muốn nói đến vùng đất hoang vắng của tâm hồn con người, nó khô khan, lạnh lẽo như sa mạc, xơ cứng, nứt nẻ như cánh đồng hoang vu vậy. Có như thế mới cần “Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho ĐỨC CHÚA, giữa đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta”. Vâng, hoang địa ở đây chắc chắn là hoang địa tâm hồn, và để mở một con đường, vạch một con lộ, thì phải biết “Mọi thung lũng tị hiềm phải lấp cho đầy, mọi núi đồi kiêu căng phải bạt cho thấp, mọi khúc quanh co gian hiểm phải uốn cho ngay, mọi đường lồi lõm ghét ghen phải san cho phẳng” (Is 40, 3-4). Chỉ có như thế mới thực sự là biết sẵn sàng dâng Chúa tất cả “sự yếu đuối và tội lỗi” của mình.

Rõ ràng là hãy sám hối để thanh tẩy tâm hồn, dọn đường cho Chúa đi, đón chờ ngày quang lâm của Đấng Cứu Độ, mà sám hối tức thị là: “Các anh hãy sinh những hoa quả xứng với lòng sám hối” (Lc 3, 8). Cụ thể hơn nữa, hãy theo đám đông mà chất vấn chính Tiếng-hô-trong-hoang-địa Gio-an như trình thuật Tin Mừng theo Thánh Lu-ca: “Đám đông hỏi ông rằng: “Chúng tôi phải làm gì đây”? Ông trả lời: “Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy”. Cũng có những người thu thuế đến chịu phép rửa. Họ hỏi ông: “Thưa thầy, chúng tôi phải làm gì”? Ông bảo họ: “Đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho các anh”. Binh lính cũng hỏi ông: “Còn anh em chúng tôi thì phải làm gì? “Ông bảo họ: “Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình” (Lc 3, 10-14).

Quả thật không còn gì đáng làm hơn là hãy “Dâng cho Chúa sự yếu hèn và tội lỗi, dâng cho Chúa tất cả cuộc đời dù xấu xa nhơ nhuốc tới đâu chăng nữa”. Có như thế mới hy vọng “Người thấy anh em tinh tuyền, không chi đáng trách và sống bình an” và Người sẵn sàng dang tay đón vào “trời mới đất mới, nơi công lý ngự trị” (2Pr 3, 13). Ước được như vậy. Ôi! “Lạy Thiên Chúa toàn năng ái tuất, xin đừng để chúng con mải mê thế sự, chẳng còn hăm hở đi đón mừng Con Chúa, nhưng xin dạy chúng con biết ham thích những sự trên trời, hầu được cùng Người vui hưởng phúc trường sinh. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thủa muôn đời. Amen” (Lời nguyện nhập lễ CN II-MV).

JM. Lam Thy ĐVD

Advertisements
Bài này đã được đăng trong Chia sẻ. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.