Trò chuyện với Uyên Thao về “Phiên Bản Tình Yêu”

Cuối Đông 2012, Tủ Sách Tiếng Quê Hương cùng lúc cho ra đời 3 tác phẩm: “Thú Người”, “Dạ Tiệc Quỷ” và “Phiên Bản Tình Yêu”. Cả ba đều thuộc thể loại tiểu thuyết, nhưng khác với hai cuốn kia “Phiên Bản Tình Yêu” là một truyện dài, đúng hơn, một truyện tình dài. “Phiên Bản Tình Yêu” có điểm giống với “Bên Thắng Cuộc” – ra đời trước vài tháng – là cùng nhìn lại những gì đã xảy ra trên đất nước dưới chế độ cộng sản, chỉ khác cách thể hiện.

“Phiên Bản Tình Yêu” (PBTY) là cuộc đời trải dài của nhiều nhân vật suốt nhiều chục năm vì thế các tình tiết móc nối chằng chịt nhau; tôi nhờ đọc trước bài điểm sách “Ngõ Vào Phiên Bản Tình Yêu” của ông Trần Phong Vũ nên không quá bị ngộp. Tuy nhiên, vì chiều dày lịch sử và lại liên quan tới một thời kỳ hết sức biến động, tôi cảm thấy cuốn sách vượt tầm hiểu biết của mình. Do đó, tôi nảy ra ý định hỏi chuyện một người đã từng sống rất “kỹ” thời gian ấy, ông Uyên Thao, cựu tổng thư ký báo Sóng Thần (Sài Gòn trước 1975) và cũng là người sáng lập Tủ Sách Tiếng Quê Hương (tủ sách đã ấn hành tác phẩm PBTY).

Để tiện cho bạn đọc theo dõi, xin tóm tắt cốt truyện như sau.

Nhân vật chính trong truyện là Lê Huy Phong (tức Lê Huy, Chu Bá Ngôn), nguyên sinh viên luật khoa Đại học Huế, đảng viên Cộng Sản Việt Nam, đặc công biệt động thành. Lê Huy được lệnh phá xập cầu Gia Hội. Anh đã ép buộc Cẩm Khuê, người yêu đầu đời, giả làm gái điếm để thi hành nhiệm vụ. Cơ mưu không thành Lê Huy bị bắt nhưng được Bửu Dương, một sĩ quan an ninh đối phương, giúp thoát thân. Tiếp theo là những tháng ngày phiêu bạt, sống chui nhũi trong hầm tối vì bị đồng đội bỏ rơi. Cuộc tình với nữ du kích quân Phan Thị Mơ nảy nở trong thời gian nà. Sau 1975, Lê Huy gặp lại cha, giờ là một thiếu tướng CS, nhờ đó bắt đầu cuộc sống sung túc và trở thành tổng giám đốc công ty. Lê Huy tình cờ gặp Tường Vi – con gái duy nhất của Bửu Dương và Cẩm Khuê – khi đi quán bia ôm. Anh yêu nàng nhưng không dám đi tới việc chung chăng gối vì bị kỷ niệm xưa ám ảnh. Thị Mơ sẵn có ước mơ định cư hẳn Hoa Kỳ nên khi nhận ra Tường Vi chính là “phiên bản tình yêu” của chồng thì bỏ đi Mỹ ngay tuy vẫn hy vọng cuộc tình giữa Lê Huy và Tường Vi sẽ không thành tựu.
Phiên bản tình yêu
Nguồnảnh: TQH

Và dưới đây là phần trò truyện với Uyên Thao.

Mộc Lan: Thưa anh Uyên Thao. PBTY trên phương diện tiểu thuyết, theo ML, là khá hấp dẫn với những tình tiết ly kỳ với giọng văn sắc bén, điều này cho thấy tác giả – Vũ Biện Điền – không phải là người mới viết văn. Anh có thể cho biết đôi điều về tác giả được không?

Uyên Thao: Trước hết, theo tôi, nhận định của ML về tác phẩm PBTY có thể được nhiều người tán đồng nhưng có thể cũng có nhiều người bất đồng. Dù diễn giải cách nào, đây là cách đánh giá hoàn toàn mang tính chủ quan của người đọc và chắc chắn khó thể có sự đồng nhất. Tính hấp dẫn của một tác phẩm cũng như giá trị của một tác phẩm luôn dựa trên nhiều nền tảng khác biệt tuỳ theo cách nhìn. Với người này có thể là cách dàn dựng cốt truyện với các tình tiết đặc biệt và giọng văn sắc bén, nhưng với người khác có thể chỉ là chủ điểm nội dung hoặc văn phong tươi mát v.v… Ngoài ra, tài năng của một tác giả không hẳn chỉ hoàn toàn do riêng việc rèn luyện tức là chỉ khởi từ kinh nghiệm thực tế theo thời gian cầm bút. Thiếu gì tác giả nổi danh ngay với tác phẩm đầu tay mà theo sát nghĩa đen của danh từ rõ ràng chỉ là một tay mơ. Tác giả PBTY thì không phải tay mơ. Tuy nhiên, do nhiều ràng buộc khó vượt nên tôi xin cáo lỗi chỉ có thể nhắc vài chi tiết sơ lược. Vũ Biện Điền sinh ra và lớn lên trong cả hai cuộc chiến trước và sau 1954. Mẹ anh bị Pháp giết, chú và anh bị cộng sản giết, trong khi cha anh mải mê theo lý tưởng kháng chiến chống ngoại xâm. Anh đã tốt nghiệp hai trường đại học tại miền Nam và viết văn từ thời sinh viên trước 1975. Anh dành 6 năm viết tác phẩm PBTY và từng tâm sự với một người bạn là nhiều đêm ngồi trước máy vi tính, anh đã khóc với nhân vật của mình.

ML: Vì chưa từng sống trong thời chiến tranh Quốc-Cộng trước 75 nên ML khó hình dung được nhiều điều trong truyện. Ví dụ, có thể có một thanh niên hết lòng vì lý tưởng (cộng sản) đến mức dùng chính người mình yêu để phục vụ mục đích đấu tranh hay không?

Uyên Thao: Mức độ tận hiến trong đấu tranh của những người nhập cuộc không hiếm hoi và chỉ có tại một nơi nào, một thời khoảng nào hoặc thuộc riêng một hàng ngũ nào. Nhưng nếu giới hạn trong không gian Việt Nam và giới hạn thời gian từ khi cộng sản hiện diện thì vấn đề có những nét gần như chưa từng có suốt chiều dài lịch sử. Cách đây không lâu, báo Quân Đội Nhân Dân tại Việt Nam đăng một bài viết về những tấm gương tận hiến cho “cách mạng” trong đó có chuyện một nữ cán bộ cơ sở nuôi giấu lãnh tụ Lê Duẩn trong phòng ngủ nên sợ chồng nổi cơn ghen làm lộ chuyện đã đề nghị cấp trên cho “khử” người chồng.(*)

Với riêng tôi, một hình ảnh cách đây 60 năm vẫn thường trở lại. Đó là hình ảnh một thanh niên bị trói quặt hai tay ra sau lưng nằm ngửa dưới đất hứng những dòng nước đái của một cô gái tốc váy đái vào mặt giữa một đám đông vây quanh. Người con gái đó chính là người yêu của anh. Chuyện xảy ra tại một vùng quê Thanh Hoá thuở mở màn các cuộc đấu tố thí điểm cho chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất 1953. Anh thanh niên vừa thuộc thành phần địa chủ vừa bị kết buộc là phản động do liên hệ với Việt Nam Quốc Dân Đảng nên người yêu của anh bày tỏ thái độ tận hiến cho “cách mạng” bằng cách đó. Anh bị xử đưa vào trại tù Lý Bá Sơ nhưng may mắn nhờ hiệp ước Genève 1954 quy định về thả tù nên được rời trại cuối năm 1954, kịp trốn về Hà Nội rồi trốn được vào Nam và hiện còn sống tại California với nguyên vẹn tới nay những vết tích do trại tù Lý Bá Sơ in hằn trên thân xác.

So với các sự việc đó, nhân vật chính của PBTY tạo cho người yêu cái vỏ mãi dâm để che kín bộ mặt đặc công của mình hầu an toàn tiếp tục vai trò công cụ phục vụ Đảng là chuyện không đáng ngạc nhiên. Chỉ có điều nếu muốn dùng hai chữ “hy sinh” thì hai chữ này đã đổi hẳn nghĩa là buộc người khác phải “hy sinh” cho mình, bất kể người đó muốn hay không. Với những người tận trung với lý tưởng Cộng Sản, hành xử theo cách này là điều bình thường vì châm ngôn của họ là “cứu cánh chứng minh cho phương tiện” trong khi lãnh tụ Lenin đã cụ thể hoá ý nghĩa châm ngôn trên bằng lời giáo huấn“để đáp ứng yêu cầu của cách mạng, có quyền cướp bóc, giết người nếu thấy là cần thiết.”

ML: Nhân vật “tôi” – chàng thanh niên Lê Huy Phong – khi không được “nhảy núi” thì tỉnh ngộ và thôi không theo Mặt Trận GPMN nữa. Trong cuộc đời của anh, anh đã từng gặp những trường hợp tương tự như Lê Huy Phong chưa?

Uyên Thao: Cần nói ngay nhân vật chính trong PBTY tỉnh ngộ không hẳn vì không được “nhảy núi.” Trên thực tế anh ta đã “nhảy núi” rồi mới trở thành đặc công biệt động nội thành. Anh ta tỉnh ngộ vì may mắn gặp được những người còn giữ vẹn tính người như gia đình ông Phan Ne và nhờ đó đã phát hiện tính xảo trá, bất nhân của chủ nghĩa Cộng Sản.

Về những người tỉnh ngộ mà tôi có dịp gặp thì phải nói là khó kể hết nhưng có vài người tương đối đặc biệt như nhà văn Lương Quân, các ký giả Đông Tùng, Nguyễn Nguyên và hoạ sĩ Choé.

Nhà văn Lương Quân đang du học tại Pháp đã bỏ về nước tham gia bộ đội kháng chiến năm 1946 và là một sĩ quan pháo binh trong trận Điện Biên Phủ. Ngay khi trận đánh chấm dứt trong chiến thắng, anh đã bỏ ngũ trốn về Hà Nội rồi trốn sang Lào vì thấy đảng Cộng Sản lệ thuộc quá nặng vào Trung Cộng và phân rẽ dân tộc với chủ trương đấu tranh giai cấp tàn khốc.

Đông Tùng là một nhà nho có tinh thần cấp tiến, hoạt động cho cộng sản từ trước 1940 tại Thái Lan và Nguyễn Nguyên tham gia kháng chiến từ 1945. Cả hai được cài vào nằm vùng tại Sài Gòn từ 1954 và sau 1975 đều được tuyên dương thành tích, được ưu đãi nhưng đều tỉnh ngộ. Tôi vẫn nhớ câu nói cuối cùng của Nguyễn Nguyên với tôi trước khi anh chết năm 2002 là một lời than đầy uất ức: “Đất nước mình bất hạnh cùng cực vì đã có một lãnh tụ là ông Hồ!”

Riêng Choé, năm 1960 vừa 17 tuổi đã bị lùa lên núi cầm súng hoạt động du kích. Không hiểu biết gì về chính trị nhưng Choé không chấp nhận cảnh bị cưỡng bức rời nhà đi cầm súng nên ít lâu sau đã bỏ trốn và do đó phải rời Châu Đốc lên Sài Gòn sinh sống rồi trở thành một hạ sĩ quan trong quân đội Việt Nam Cộng Hoà.

Nói chung có nhiều người đã rời bỏ hàng ngũ Cộng Sản do tỉnh ngộ hoặc bởi nhiều lý do khác và trường hợp như nhân vật chính của PBTY là rất thường.

ML: Trong PBTY có nhiều mẫu người. Anh thấy những mẫu người ấy có thật không hay chỉ được tạo dựng để lên tiếng phát biểu về những điều nào đấy.

Uyên Thao: Với nghệ thuật tiểu thuyết, mọi nhân vật đều được tạo dựng để bằng mọi cách phát biểu về các chủ ý của tác gỉa nên không thể bảo nhân vật tiểu thuyết nào là người thực trong cuộc sống. Tuy nhiên, mọi nhân vật được tạo dựng không bao giờ tách rời nổi khỏi cuộc sống mà luôn gắn kết với hình ảnh của nhiều con người thực trong cuộc sống. PBTY là một cuốn tiểu thuyết chắc chắn không vượt khỏi công lệ này. Do đó, không ít nhân vật trong PBTY dù là nhân vật được tạo dựng vẫn gợi nhắc về nhiều người từng sống tại Huế trước năm 1975. Nhưng điểm quan trọng sẽ chỉ là qua những nhân vật này, tác giả có truyền đạt nổi tới người đọc cái chủ ý muốn truyền đạt hay không, chủ ý đó nhắm nói lên điều gì và có thực sự gắn kết với yêu cầu của cuộc sống hay không?

ML: Trong PBTY, một nhân vật ML ấn tượng là cô Mơ, một nữ du kích, vợ Lê Huy Phong. Theo Trần Phong Vũ thì Mơ là mẫu người “tư bản đỏ” và “thực hiện chính sách rửa tiền cho chế độ.” (nguyên văn: “khuôn mặt tiêu biểu cho những mệnh phụ phu nhân Đỏ mau chân qua Mỹ dọn đường cho chủ trương hạ cánh an toàn của những đại gia, nhưng tay đầu sỏ trong chế độ”.)

Nhưng với ML, Mơ chỉ là một phụ nữ nông thôn kém may mắn bị bắt buộc phải cầm súng làm du kích, sau này khi có điều kiện, Mơ ra sức làm việc, thành giàu có. Tuy Mơ chỉ biết nghĩ cho riêng mình và gia đình mình, nhưng vẫn đáng thương hơn đáng trách. Nhận xét của anh về nhân vật (có thể là tiêu biểu cho một tầng lớp trong xã hội VN lúc này) ra sao?

Uyên Thao: Theo tôi, PBTY có khá nhiều nhân vật gây ấn tượng dù chỉ là các nhân vật phụ xuất hiện gần như thoáng qua trong một số trang hạn chế. Tuy nhiên thực sự gây ấn tương với tôi chính là cảnh sống của mọi nhân vật kéo dài từ trang đầu tới trang cuối tác phẩm. Nói một cách vắn gọn thì đó là bộ mặt thực của đất nước Việt Nam sau khi được đặt trên “con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa” với nét hoạ nổi bật là hết thẩy con người ở mọi vị thế, mang mọi chân dung, ấp ủ mọi tâm tư… đều không còn gọi được là người. Bởi hết thẩy đều rơi xa thẳm khỏi thân phận nạn nhân bi thảm của đủ mọi tệ nạn ngu si, nghèo đói, lường gạt, áp chế… mà gần như tự nguyện lao đầu vào cuộc đua hoang thú hoá bản thân với nỗi đam mê cuồng nhiệt, đặc biệt là lớp người đang thủ đắc quyền lực trong tay. Trong cảnh sống đó, nhân vật Mơ là một mẫu người thực tế biết khai thác cơ hội để làm giàu nên có thể gán cho tước danh “tư bản Đỏ” cũng được. Nhưng nếu bảo Mơ “thực hiện chính sách rửa tiền cho chế độ” thì đi hơi xa, nhất là khi Mơ đã thấy không còn cơ hội cứu vãn lẽ sống duy nhất của đời mình là tình yêu.

Qua việc Mơ chọn lựa rời bỏ quê hương để sống lưu vong tại Mỹ, tác giả đã gửi lời phát biểu cực kỳ đau đớn về cuộc sống Việt Nam tới người đọc. Vì Mơ là con của ông già Phan Ne hiền lương chất phác nên Mơ đã in sâu trong não bộ lời nói của cha mình khi ông vứt thẻ đảng, vứt mọi chức vụ đang có, “Thà ăn cứt một mình mà làm người còn hơn ăn cơm chung với tụi nó mà làm chó.” Chọn lựa của Mơ là chọn lựa bắt buộc của một con người thực tế không chịu biến thành chó, đồng thời cũng có thể coi là một lời giải thích về lý do đã khiến hàng triệu người Việt Nam phải bỏ nước ra đi trong điều kiện một sống hai chết.

Nhưng khi mà chính những người đã nhận thức rõ về cảnh sống đất nước chỉ còn cách bỏ chạy để cứu riêng mình thì cái kiếp chó của 90 triệu bà con tới lúc nào mới chấm dứt? Tôi nghĩ về nhân vật Mơ như một phát biểu nhức nhối của Vũ Biện Điền và chỉ dừng riêng trước phát biểu này, tôi đã thấy nghẹn ngang cổ.

ML: Hẳn có những người như Lê Huy Phong – làm việc cho chế độ CS nhưng vẫn âm thầm làm những điều tốt, điển hình là Vũ Biện Điền, tác giả PBTY – Anh đã từng gặp những người tương tự hay không? Có nên gọi họ là “người cộng sản chân chính” hay không?

Uyên Thao: Nghe mấy tiếng “Cộng Sản chân chính”, tôi lại nhớ tới một tai nạn đã tự gây ra cho mình 30 năm trước khi đang ở trại tù K.3. Thuở đó vào một ngày quá nản với cái trò bó gối ngồi nghe đọc các khẩu hiệu nhàm chán về cộng sản, về giai cấp đấu tranh … tôi đã có một phản ứng hoàn toàn bất ngờ. Đó là lúc quản giáo ngoắc tôi tới để nghe anh ta nói về Chủ nghĩa Cộng sản. Vừa mệt lại vừa ngán ngẩm, tôi xin phép cho tôi nói trước. Và khi anh ta gật đầu, tôi nói liền: “Tôi thấy cán bộ chưa quá 25 tuổi, như vậy, tuổi đời của cán bộ chưa bằng thời gian tôi bỏ ra để đọc sách Karl Marx và Lenin. Vậy tốt hơn hết, cán bộ đừng giảng về Chủ nghĩa Cộng sản cho tôi. Nếu cán bộ cần thì cứ hỏi, tôi sẽ giảng cho cán bộ.” Lập tức, tôi bị quát đứng dậy, bị dẫn về trại, giao cho an ninh để nhận hình phạt biệt giam cùm hai chân hai tuần lễ.

Theo tôi, mấy tiếng “Cộng Sản chân chính” nếu không nảy ra do những đầu óc đần độn cùng cực thì là sản phẩm của một trò nhơ nhuốc tìm cách tự lường gạt chính mình. Tôi có thể đoan chắc không một lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam nào tránh khỏi khựng người trước câu hỏi: “Ông nhắc tới Cộng Sản chân chính, vậy xin cho biết đó là thứ Cộng Sản nào? Cộng Sản của Marx theo Tư Bản Luận tập 1 năm 1867 hay Tư Bản Luận tập 3 năm 1894? Hay Cộng Sản Lenin? Cộng Sản Stalin? Cộng Sản Mao Trạch Đông? Cộng Sản Tito? Cộng Sản Trotsky?” Giả dụ biết rõ về đặc trưng của mọi lý tưởng Cộng sản kể trên thì lại càng khựng người trước câu hỏi vì khoảng cách mịt mù giữa nguyện vọng chính đáng của dân tộc và mục tiêu chủ yếu mà mọi lý tưởng Cộng Sản nhắm tới.

Dù vào những ngày cuối đời, chính Marx đã tự thú sai lầm khi cổ võ đấu tranh giai cấp bằng bạo lực để làm nổ tung chủ nghĩa tư bản, nhưng Marx vẫn không nhìn qua khỏi mục tiêu giành lại các quyền lợi kinh tế cho giai cấp vô sản mà Marx cho rằng đã bị cướp đoạt bởi giai cấp tư bản, và đặc biệt theo Marx, chỉ riêng giai cấp vô sản là tinh hoa của loài người, là giai cấp duy nhất được quyền tồn tại trên mặt đất với mọi quyền lực trong tay. Từ Lenin tới Stalin, Mao Trạch Đông, thậm chí cả Tito nữa dù có những cải biến cũng không nhắm mục tiêu nào khác ngoài mục tiêu nắm chắc quyền lực giành được bằng họng súng cho giai cấp vô sản mà từ đầu thế kỷ 20 đã được Kautsky thuộc Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản vạch rõ là chỉ cho một nhóm người hay một người nào đó thôi. Vì thế mọi giáo huấn của Hồ Chí Minh trong nội bộ đảng Cộng Sản luôn là lời cảnh báo “chủ nghĩa dân tộc và ái quốc là các hiểm hoạ phải tiêu diệt.” Qua các tài liệu chính thức vẫn truyền bá tới nay, đã hơn một lần Hồ Chí Minh nhấn mạnh “chủ trương giành độc lập, tự do cho dân tộc chỉ là chiêu bài tranh thủ nhân tâm” trong giai đoạn khắp thế giới đang bùng nổ phong trào chống chủ nghĩa thực dân của các dân tộc nhược tiểu.

Như thế, giả dụ có những người Cộng sản chân chính thì những người này đâu có liên hệ gì với các nguyện vọng chính đáng của dân tộc Việt Nam? Tôi chỉ thấy càng là Cộng sản chân chính càng kiên thủ hướng đi ngược chiều với hướng đi của mọi dân tộc trên trái đất, cho nên không thể bảo những người đang ở trong hàng ngũ Cộng sản vẫn âm thầm làm điều tốt cho dân tộc là “người Cộng sản chân chính”. Ngoài ra thì chính những người Việt Nam đang tuyên xưng lý tưởng Cộng sản có mấy người hiểu Cộng sản là gì đâu để nói họ là chân chính hay không chân chính.

Tới lúc này, theo tôi, mấy chữ Cộng sản chân chính đã xuất hiện như một chiêu bài tiếp nối cái chiêu bài giành độc lập tự do cho dân tộc được Hồ Chí Minh triệt để khai thác trước đây. Mục tiêu của chiến thuật này chỉ nhắm biện giải rằng những tác hại đã tàn phá đất nước là do một số người xấu hoặc lầm lạc chứ chủ nghĩa Cộng Sản vẫn là con đường đem lại hạnh phúc cho dân, cho nước! Chiến thuật này đã dễ dàng thâu hoạch kết quả do không ít người vẫn u mê tin cái chiêu bài vì dân, vì nước được Cộng Sản mở ra từ thập niên 1920, đồng thời cũng do không ít người tuy nhìn rõ vấn đề nhưng không dám tự thú sự lầm đường lạc lối của mình nên cố bám víu vào mấy chữ đó để duy trì quyền lợi đang có hoặc để níu kéo những hào quang hão huyền vẫn luôn quyến rũ, ve vuốt tính tự ái mù loà.

Cho nên thú thực tôi chưa từng gặp một người Cộng Sản chân chính nào tại Việt Nam. Còn những người như nhân vật chính trong PBTY dù nằm trong hàng ngũ Cộng Sản, làm việc dưới sự chi phối của Cộng Sản vẫn cố giữ cho mình không nhúng tay vào tội ác, cố làm một số điều tốt nào đó cho những người xung quanh thì chỉ là do bản tính thiện và vị tha hằng hữu mà thôi. Những người này thì chắc chắn mọi người đều có thể đã gặp và gặp rất nhiều tại Việt Nam. Cũng có thể bảo đây là một tia lửa ấm mà tác giả PBTY muốn gửi tới người đọc, dù hiện vẫn là tia lửa mong manh.

ML: PBTY là một câu chuyện tình – giữa Lê Huy và Cẩm Khuê, sau là Lê Huy Phong với Tường Vi và Mơ – nhờ vậy những biến cố chính trị trở nên không quá khô khan. Nhưng nhờ đó mới thấy tình yêu của những nam nữ ấy làm nổi bật sự tàn bạo man rợ của chủ nghĩa cộng sản. Nói một cách khác, chủ nghĩa cộng sản không thể nào song hành với tình yêu chân chính, và trước sau gì con người cũng phải chọn một trong hai. Theo anh thì chúng ta có thể hy vọng vào cái kết cuộc “có hậu” là người Việt sẽ chọn “tình yêu”?

Uyên Thao: Nói PBTY là một câu chuyện tình chỉ chính xác nếu dựa riêng theo tựa đề tác phẩm và sự xuất hiện từ trang đầu tới trang cuối tác phẩm của nhân vật nữ Tường Vi. Tuy nhiên, chủ ý tác giả không gom trọn trong cuộc tình của nhân vật Tường Vi hay bất kỳ cuộc tình nào của nhân vật chính Lê Huy Phong. Có thể bảo tình yêu trong tác phẩm PBTY chỉ là một chất keo kết nối các tình tiết và một động lực thúc đẩy nhiều xu hướng tâm tư để giúp làm nổi bật chủ ý tác giả là diễn tả thực tế đời sống Việt Nam qua nhiều khía cạnh trong đó nổi bật nét khắc về tính đổ vỡ cùng cực của con người từ mọi phương diện hành xử tới suy tư.

Dù tác giả định tính cho tác phẩm của mình là tiểu thuyết, PBTY vẫn mang vóc dáng một loại tâm bút nhiều hơn là một tác phẩm nghệ thuật thuần túy. Có thể khẳng định không sợ lầm lẫn rằng Vũ Biện Điền không dựng một tác phẩm nghệ thuật về tình yêu mà chỉ muốn gửi đến mọi người bức chân dung nhầy nhụa thê thảm tới mức kinh hoàng của đời sống Việt Nam hiện nay cùng với nỗi đau bóp nghẹn tim óc của những người còn đủ lương tri không xoay lưng làm ngơ trước thời thế. Chính tính chất này đã khiến tác phẩm có những chương gần như không còn bóng dáng nghệ thuật — các chương A33, A34, A35 chẳng hạn — hoặc dụng ý kéo dài cảnh ăn chơi sa đoạ tới hơn 70 trang mở đầu tác phẩm, trước khi đẩy lên sân khấu một nạn nhân bên cạnh các công thần của chính sách Cải Cách Ruộng Đất…

Cho nên, Bảo Trọng Cư đã nhận định về PBTY như sau:

“…Thời gian của tác phẩm xuyên suốt từ 1954 đến tận hôm nay, với những nhân vật đặc trưng và dụng ý rõ rệt của tác giả. Đây không chỉ là chuyện đời, chuyện tình của nhân vật chính và một số người liên quan mà gắn kết với những vấn đề lịch sử và chính trị hệ trọng của đất nước thông qua suy tư, tranh luận và hành vi của các nhân vật…Nguồn gốc cuộc chiến tranh Việt Nam, nhận định và  phê phán các nhân vật lịch sử cả hai miền Nam Bắc, sai lầm và tác hại của chủ nghĩa Cộng Sản, bản chất của chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa …Những vấn đề này không được trình bày khô khan qua lý thuyết mà bằng những hình ảnh sống động của các nhân vật trong từng giai đoạn và sự cố…. hình thành một bức tranh tổng thể, một vở kịch lịch sử bi tráng, phần nào lý giải sự thất bại của miền Nam dù có tự do dân chủ và mức sống cao hơn miền Bắc, trong cuộc chiến vừa qua.”

Theo Bảo Trọng Cư, nội dung PBTY đã dồn nén đau nhức của cả dân tộc từ nửa thế kỷ vừa qua.

Vì thế, thay vì trả lời ML về câu hỏi có nên hy vọng vào hồi kết “có hậu” là người Việt sẽ chọn tình yêu thay vì chủ nghĩa Cộng Sản không, tôi nghĩ nên hy vọng sẽ nhận được từ hết thẩy người Việt câu trả lời thích đáng nhất cho những câu hỏi mà Bảo Trọng Cư đưa ra sau khi đọc tác phẩm PBTY:

“Treo bảng Cộng Hòa sao lại Vô Sản Chuyên Chính?
Treo bảng Độc Lập sao nhất nhất mỗi việc phải thông qua Nga, qua Tàu?
Treo bảng Tự Do sao độc đảng đơn nguyên?
Treo bảng Hạnh Phúc sao nhân dân đói rặt từ Nam chí Bắc?
Staline dựng chiêu bài giải phóng Đông Âu khỏi họa Phát Xít Đức rồi áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản, nay các quốc gia đó đã ngẩng cao đầu sau khi Liên Xô sụp đổ.
Hồ Chí Minh dựng chiêu bài độc lập kêu gọi nhân dân chống thực dân Pháp rồi áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản, nay Việt Nam vẫn còn trầm luân.
Liên Xô sụp đổ rồi, không nói nữa, nhưng đại Hán Trung Hoa còn đó, mất đất trên bộ mất đảo ngoài biển làm sao đây?
Phật Giáo Quốc Doanh đang lan tỏa và nuốt chửng Phật Giáo Thống Nhất, những Phật tử vì đạo pháp vì dân tộc nghĩ sao?
Và cả Công Giáo nữa, cuộc chiến chống Cộng Sản mang ý nghĩa gì?”…

Cuộc truyện trò với Uyên Thao dừng tại đây. Nội dung chuyên chở trong “Phiên Bản Tình Yêu” không thể gói gọn trong vài câu hỏi, nhưng đó chính là điều đáng mừng vì không phải là tiểu thuyết đọc một lần rồi bỏ. Và tuy Uyên Thao không nói tới một kết cuộc “có hậu” thì tôi vẫn tin vào nó, bởi vì dù cố gắng tô vẽ đến đâu thì Chủ nghĩa Cộng sản cũng chẳng trở thành một phiên bản tình người và rồi sẽ bị đào thải khỏi nhân loại.

Mộc Lan DCVOnline


(*) Báo Quân Đội Nhân Dân ngày 9-3-2007, bài Một Nửa Thế Giới… trích đoạn như sau: “Một chị là cơ sở cách mạng nuôi giấu ông (tức Lê Duẩn) trong phòng ngủ, bất chợt người chồng trở về và nổi cơn ghen khiến ông có nguy cơ bại lộ. Chị cơ sở báo động và xin chỉ thị có cần phải “khử” người chồng hay không …” — Theo “Sau Bức Màn Đỏ” của Hoàng Dung.

About these ads
This entry was posted in Bình luận. Bookmark the permalink.